Ông Đinh Hồng Kỳ trả lời phỏng vấn trên Báo Dân Trí xuất bản ngày 04/11/2026
(Dân trí) – Về đề xuất thu phí túi nilon, cốc nhựa thay vì cấm ngay trong năm nay, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TPHCM Đinh Hồng Kỳ cho rằng nên thí điểm mức thu đủ để tác động đến hành vi của người tiêu dùng.
Tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (dự thảo) đang lấy ý kiến, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn và khu du lịch không cung cấp miễn phí túi nilon khó phân hủy, bao bì nhựa và sản phẩm nhựa dùng một lần, thay vì phải ngừng lưu hành hoàn toàn các sản phẩm này sau năm 2025 như lộ trình hiện hành. Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ phải trả tiền.
Câu hỏi đặt ra không chỉ là người tiêu dùng có sẵn sàng trả tiền cho một chiếc túi hay không, mà còn là mức thu bao nhiêu mới đủ thay đổi thói quen và làm thế nào để doanh nghiệp chuyển đổi mà không chịu bất lợi.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TPHCM (HGBA), cho rằng thu phí khả thi hơn một lệnh cấm mà thị trường chưa đủ điều kiện thực hiện. Tuy nhiên, thu phí chỉ là công cụ thay đổi hành vi. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát đồng bộ, lượng rác thải nhựa chưa chắc giảm tương ứng, trong khi doanh nghiệp tiên phong chuyển đổi có thể chịu thiệt.
Thu 300 đồng mỗi túi khó thay đổi hành vi
Theo ông, chính sách “không cung cấp miễn phí” thay vì cấm cần được thiết kế thế nào để thực sự thay đổi hành vi tiêu dùng?
– Thu phí khả thi hơn một lệnh cấm mà chính cơ quan quản lý đã thừa nhận chưa thể thực hiện. Nhưng thu phí chỉ là công cụ để thay đổi hành vi, không phải đích đến của chính sách.
Không có chiếc túi nilon nào thực sự miễn phí. Chi phí thu gom, xử lý và ô nhiễm chỉ được chuyển từ quầy thu ngân sang toàn xã hội. Một mức giá tại quầy buộc người mua tự hỏi: Mình có thật sự cần chiếc túi này không?
Ireland áp dụng mức thu 15 cent mỗi túi từ năm 2002, giúp lượng sử dụng giảm từ 328 xuống 21 túi/người/năm. Nhưng khi người dân dần quen với mức giá, con số này tăng trở lại hơn 30 túi, buộc nước này nâng mức thu lên 22 cent vào năm 2007.

Theo tôi, chính sách cần bảo đảm 4 nguyên tắc.
Thứ nhất, mức giá phải đủ để người mua cân nhắc. Hiện một số siêu thị đã bán túi với giá 300 đồng. Khoản 300 đồng trên hóa đơn 300.000 đồng chỉ chiếm 0,1%, khó tạo ra thay đổi đáng kể. Có thể thí điểm song song hai mức 1.000 đồng và 3.000 đồng mỗi túi tại hệ thống bán lẻ hiện đại, sau đó đánh giá bằng dữ liệu để lựa chọn. Đây là mức tôi đề xuất để kiểm nghiệm hiệu quả, không phải mức phí đã được ban hành.
Thứ hai, cần phân biệt giá bán túi với thuế, phí. Giá tại quầy tác động trực tiếp đến người mua; thuế, phí bảo vệ môi trường đánh vào khâu sản xuất, nhập khẩu và chỉ đi vào giá bán một cách gián tiếp. Hai công cụ này cần được thiết kế riêng, và mọi khoản thu bắt buộc phải có cơ sở pháp lý, công khai cách sử dụng.
Thứ ba, cần hướng tới giảm sử dụng mọi loại túi dùng một lần, kể cả túi giấy và túi sinh học. Mục tiêu là giảm tiêu dùng, không đơn thuần thay vật liệu này bằng vật liệu khác. Nhiều loại túi được quảng cáo là sinh học song chỉ phân hủy được trong điều kiện xử lý công nghiệp.
Thứ tư, thuế phải thực sự thu được. Mức thuế bảo vệ môi trường 50.000 đồng/kg túi nilon khó phân hủy đã có từ năm 2019, nhưng túi nilon vẫn tràn lan. Nếu hàng hóa không hóa đơn vẫn cạnh tranh được với hàng tuân thủ quy định, việc tăng thuế suất chỉ khiến doanh nghiệp làm đúng chịu thiệt hơn.
Điều cần hướng đến không phải là chuyển từ văn hóa dùng túi miễn phí sang văn hóa mua túi, mà là từ văn hóa dùng một lần sang văn hóa sử dụng có trách nhiệm.
Dự thảo cũng đề xuất lùi thời hạn dừng sản xuất, nhập khẩu túi nilon khó phân hủy loại mỏng từ ngày 1/1/2026 theo quy định hiện hành sang sau ngày 31/12/2030. Việc lùi thời hạn này có thể tác động thế nào đến quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp?
– Năm 2030 phải là thời điểm hoàn thành một bước chuyển đổi, không phải thời điểm bắt đầu. Doanh nghiệp cần thời gian, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều tôi lo là khoảng thời gian ấy bị hiểu thành quyền được trì hoãn.
Dự thảo còn một kẽ hở cần sửa ngay: Ngưỡng độ dày để xác định túi nilon thuộc diện dừng sản xuất được hạ từ dưới 50 micromet xuống dưới 30 micromet, đồng thời bỏ giới hạn kích thước. Như vậy, nhà sản xuất chỉ cần làm túi dày hơn một chút là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh.
California (Mỹ) từng gặp vấn đề tương tự. Bang này thông qua lệnh cấm túi nilon mỏng năm 2014 nhưng cho phép bán túi nhựa dày hơn với lý do có thể tái sử dụng. Kết quả là đến năm 2022, lượng túi nhựa thải bỏ tăng 47%, từ 157.385 tấn lên 231.072 tấn, vì phần lớn túi dày vẫn bị vứt sau một lần dùng.
Vì vậy, phải đo kết quả bằng số kg nhựa giảm được, không phải bằng số chiếc túi được thay thế.
Một hệ quả khác là tín hiệu chính sách không nhất quán. Mốc 1/1/2026 đã được quy định từ năm 2022 tại Nghị định 08/2022/NĐ-CP. Doanh nghiệp đã đầu tư theo mốc này có thể chịu thiệt, trong khi doanh nghiệp chờ đợi lại có lợi thế. Những đơn vị tiếp tục rót vốn vào dây chuyền sản xuất bao bì khó phân hủy có nguy cơ tạo ra tài sản lạc hậu.
Đặc biệt, doanh nghiệp xuất khẩu không thể chờ đến năm 2030 mới chuyển đổi, bởi Quy định về bao bì và chất thải bao bì của Liên minh châu Âu (PPWR) đã bắt đầu áp dụng từ ngày 12/8/2026.
Tôi kiến nghị biến giai đoạn chuyển tiếp thành lộ trình có các mốc kiểm chứng cụ thể vào năm 2027, 2028, thay vì chỉ đặt một thời điểm kết thúc xa. Hà Nội đã đi theo hướng này với Nghị quyết 22/2025/NQ-HĐND: chợ và cửa hàng tiện lợi không được cung cấp miễn phí túi nilon khó phân hủy từ 1/1/2027 và không được sử dụng từ 1/1/2028.
Về năng lực thị trường, đã có doanh nghiệp tiên phong và chuỗi bán lẻ lớn chuyển đổi trên toàn hệ thống, nhưng không thể từ đó kết luận cả thị trường đã sẵn sàng. Điểm nghẽn nằm ở giá thành, quy mô cung ứng, tiêu chuẩn sản phẩm và hạ tầng xử lý sau sử dụng. Tôi cũng chưa thấy số liệu công khai đáng tin cậy về tổng năng lực cung ứng bao bì thay thế, trong khi đây là căn cứ quan trọng để hoạch định lộ trình.
Yêu cầu bao bì nhựa phải chứa tối thiểu 10% vật liệu tái chế từ năm 2030 trong dự thảo là điểm tích cực, nhưng chỉ có thể thành công khi đi kèm hệ thống thu gom trong nước và tiêu chuẩn an toàn đối với bao bì tiếp xúc thực phẩm.
Doanh nghiệp làm đúng không thể cứ phải chịu thiệt
Một số chuỗi bán lẻ đã thu tiền túi hoặc triển khai mô hình cho thuê túi. Theo ông, mô hình nào có khả năng nhân rộng và đâu là rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp chưa mặn mà chuyển đổi?
– Hai mô hình này không đối lập nhau. Thu tiền túi nên là nền tảng vì đơn giản, ít tốn kém và dễ nhân rộng nhất, dù khách hàng vẫn có thể mua túi để dùng một lần. Cho thuê túi thúc đẩy tái sử dụng tốt hơn nhưng đòi hỏi hệ thống thu hồi, vệ sinh và quản lý tồn kho, nên phù hợp với chuỗi lớn như một lớp giải pháp bổ sung.
AEON ghi nhận gần 100.000 lượt thuê túi từ năm 2023 đến tháng 11/2025, riêng năm 2025 tăng gấp đôi năm trước. Đây là tín hiệu tích cực nhưng chưa đủ để kết luận mô hình có thể nhân rộng trên toàn thị trường.
Kinh nghiệm Hàn Quốc là lời nhắc về cơ chế đặt cọc. Chương trình đặt cọc đối với ly dùng một lần, dự kiến áp dụng toàn quốc, cuối cùng chỉ triển khai tại hai địa phương vì tiểu thương phản đối. Với doanh nghiệp nhỏ, nên bắt đầu từ giải pháp đơn giản hơn: không mặc định cấp túi cho khách hàng.
Để đánh giá hiệu quả thực chất, các chuỗi bán lẻ cần công bố số liệu lượng túi nhựa giảm được theo cùng một phương pháp tính.
Theo tôi, rào cản lớn nhất không nằm ở nhận thức hay giá bao bì, mà là sân chơi chưa công bằng. Doanh nghiệp thu tiền túi trước có thể mất khách vào tay cửa hàng bên cạnh. Đơn vị sử dụng bao bì đạt chuẩn phải cạnh tranh với hàng hóa không hóa đơn. Với chiếc ly nhựa chỉ khoảng 400-500 đồng, không thể chỉ trông chờ vào ý thức của chủ quán.
Doanh nghiệp nhỏ còn gặp bất lợi vì mua số lượng ít nên giá cao, đồng thời khó phân biệt bao bì đạt chuẩn với sản phẩm chỉ gắn nhãn xanh.
Muốn chuyển đổi nhanh hơn, phải làm cho lựa chọn xanh có hiệu quả kinh tế, chứ không chỉ là thể hiện trách nhiệm xã hội. Nhà nước cần thiết lập luật chơi chung và thực thi nghiêm. Doanh nghiệp lớn tạo đơn hàng đủ lớn cho nhà cung cấp. Hiệp hội kết nối nhu cầu, tổ chức mua chung và chia sẻ giải pháp. HGBA xác định vai trò quan trọng của mình là kết nối nhà sản xuất vật liệu, đơn vị bán lẻ, doanh nghiệp tái chế và tổ chức tài chính trong chuỗi cung ứng xanh.

Dự thảo tập trung vào túi nilon và đồ nhựa tại trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn, khu du lịch, trong khi hộp, khay, màng bọc và ly nhựa vẫn được dùng phổ biến ở hàng quán, đơn hàng giao tận nơi. Chính sách cần thay đổi thế nào để giảm rác thải trên toàn chuỗi tiêu dùng?
– Ô nhiễm nhựa không đơn thuần là vấn đề vật liệu, mà là hệ quả của mô hình dùng một lần rồi bỏ. Nếu chỉ siết chiếc túi ở siêu thị, rác sẽ tiếp tục phát sinh từ ly, hộp, khay và đơn hàng giao tận nhà.
Nguyên tắc của tôi là: Loại bỏ những sản phẩm không có lý do cần thiết để sử dụng, tính giá đối với những sản phẩm đã có lựa chọn thay thế, và giữ lại những sản phẩm thực sự cần thiết. Chẳng hạn, ly nhựa phục vụ khách ngồi tại quán chỉ được dùng vài phút rồi bỏ vào thùng rác, trong khi màng bọc thịt cá có thể đang góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm. Hai trường hợp này không thể áp dụng cùng một cách xử lý.
Tôi đề xuất 4 nhóm giải pháp.
Thứ nhất, gắn chi phí với thiết kế bao bì ngay từ khâu sản xuất. Trong thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), cần xem xét mức đóng góp cao hơn đối với bao bì khó tái chế như xốp, bao bì nhiều lớp. Quản lý ở khâu sản xuất, nhập khẩu cũng khả thi hơn việc kiểm tra hàng triệu điểm bán.
Thứ hai, đưa chuỗi ăn uống vào phạm vi điều chỉnh. Dự thảo chưa nêu cửa hàng ăn uống và chuỗi cà phê trong 4 nhóm địa điểm phải thực hiện, mà để tùy địa phương quyết định. Theo tôi, nên bắt đầu từ các chuỗi lớn, tiến tới ngừng dùng đồ nhựa một lần cho khách dùng tại chỗ, sau đó mới mở rộng đến cơ sở nhỏ. EU cũng cấm bao bì nhựa dùng một lần cho đồ ăn, thức uống dùng tại chỗ từ ngày 1/1/2030.
Thứ ba, thay đổi cách cung cấp bao bì cho đơn hàng mang đi và giao hàng. Các nền tảng chỉ nên kèm muỗng, nĩa, ống hút khi khách hàng lựa chọn. Cửa hàng cần chấp nhận khách mang ly, hộp cá nhân mà không tính thêm tiền. Siêu thị cũng phải rà soát việc dùng khay xốp và các lớp màng bọc không cần thiết.
Thứ tư, tạo lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp làm tốt thông qua chế tài với bên vi phạm, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đi mới công nghệ và mua sắm công xanh. Các chuỗi lớn cần công bố lượng nhựa sử dụng trên doanh thu theo một phương pháp thống nhất để có thể so sánh, đánh giá.
Trung ương nên đặt ra mặt bằng chính sách tối thiểu thống nhất, đồng thời cho phép địa phương triển khai biện pháp cao hơn. TPHCM có điều kiện thí điểm mô hình chuyển đổi theo chuỗi giá trị, bắt đầu từ chuỗi đồ uống, siêu thị và nền tảng giao hàng. Hiệu quả thí điểm cần được đo bằng lượng bao bì giảm, tỷ lệ tái sử dụng, tỷ lệ thu hồi và chi phí vận hành. HGBA sẵn sàng đóng vai trò kết nối và thúc đẩy đối thoại chính sách cho những chương trình phù hợp.
Chuyển đổi xanh không thể thành công nếu chi phí thuộc về doanh nghiệp tiên phong, sự tiện lợi thuộc về người tiêu dùng, còn hậu quả thuộc về toàn xã hội. Thước đo cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu sản phẩm dán nhãn xanh, mà là giảm được bao nhiêu tài nguyên và chất thải.
Xin cảm ơn ông
Link bài báo tại: https://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-gia-de-xuat-thi-diem-thu-1000-3000-dongtui-nilon-tai-sieu-thi-khu-du-lich-20261103184259838.htm