Bài viết của Ông Đinh Hồng Kỳ, đăng trên Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 07/01/2016.
Trong một xã hội mà nạn tham nhũng đang hoành hành thì tư tưởng xây dựng doanh nghiệp ngắn hạn để thu lợi riêng cũng là điều khó tránh khỏi. Với những doanh nghiệp như vậy, người điều hành chỉ nhìn thấy quyền lợi cá nhân hay quyền lợi công ty trong ngắn hạn mà không có một chiến lược dài hạn để xây dựng thương hiệu mình tới vài thế hệ.
Nhưng trước áp lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh biến động mạnh, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chịu tổn thương nặng nề, một số tên tuổi lặng lẽ đội nón ra đi, một số đem bán cho doanh nghiệp nước ngoài mà khả năng tiếp tục tồn tại khá mờ mịt.

Vì đâu nên nỗi? Ngoài một số nguyên nhân được đề cập trong bài Vì sao thương hiệu Việt Nam dễ trôi xa? (TBKTSG số 1-2016), bàn tròn dưới đây tiếp tục đề tài này qua góc nhìn của ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Secoin, ông Nguyễn Thanh Lâm, Chủ tịch HĐQT Công ty VietEuro và ông Trần Hữu Phúc Tiến, Giám đốc Trung tâm Đào tạo Sales, Marketing & Services (SMS).
TBKTSG: Tuần rồi trên tờ TBKTSG, ông Nguyễn Thanh Lâm đã đề cập đến một số nguyên nhân “Vì sao thương hiệu Việt Nam dễ trôi xa?”. Liệu còn những lý do gì nữa khiến các doanh nghiệp Việt Nam dễ biến mất theo thời gian?

– Ông Đinh Hồng Kỳ: Lý do, theo tôi, có thể tổng kết như sau: Thứ nhất, trong số những doanh nhân hình thành trong giai đoạn vừa qua, nhiều người xuất thân từ nông thôn, bản thân họ mới trải qua giai đoạn nền kinh tế bao cấp trước đây lại không được đào tạo bài bản các kiến thức kinh doanh hiện đại nên tư tưởng vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề tính chất vừa nông dân vừa bao cấp. Vì vậy, không ít người phát triển doanh nghiệp theo hướng ăn xổi ở thì. Có những người xây dựng mạng lưới ngân hàng chỉ với mục tiêu bán cho nước ngoài. Hay nhiều người xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp chỉ với mục đích bán cổ phần với giá cao hơn.
Thứ hai, một số không ít doanh nhân tạo dựng được gia sản lớn nhờ vào các kẽ hở trong chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, nhờ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, hay nhờ sự làm ăn dựa trên mối quan hệ của các nhóm lợi ích… chứ không phải nhờ vào mô hình kinh doanh bài bản, doanh nghiệp hoạt động minh bạch, hiệu quả một cách đúng nghĩa. Khi đó việc các ông chủ này chuyển hóa doanh nghiệp của mình theo dạng bán cho phía nước ngoài hoặc xóa sổ nó để rút lui an toàn cũng là điều dễ hiểu.
Thứ ba, trong một xã hội mà nạn tham nhũng đang hoành hành thì tư tưởng xây dựng doanh nghiệp ngắn hạn để thu lợi riêng cũng là điều khó tránh khỏi. Các ông chủ doanh nghiệp nhà nước thì xây dựng thương hiệu theo kiểu tư duy nhiệm kỳ. Thậm chí kể cả doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa vẫn còn tình trạng tư duy ngắn hạn hay tư lợi vì đơn giản là hội đồng quản trị (HĐQT) hay tổng giám đốc (TGĐ) cũng hoạt động theo nhiệm kỳ. Gần đây người ta nói đến cả tình trạng tham nhũng ở các công ty tư nhân khi mà HĐQT hay ban TGĐ hoạt động vì tính tư lợi hơn là vì quyền lợi của các cổ đông. Với những doanh nghiệp như vậy, người điều hành chỉ nhìn thấy quyền lợi cá nhân hay quyền lợi công ty trong ngắn hạn mà không có một chiến lược dài hạn để xây dựng thương hiệu mình tới vài thế hệ.
Thứ tư, một số doanh nghiệp tư nhân xây dựng thương hiệu khá thành công nhưng do không nhìn thấy tương lai ở thế hệ kế cận khi mà họ không có chiến lược chuyển giao hay con cái họ không có cái tâm niệm theo nghiệp cha mẹ thì họ cũng đành phải bỏ ngang thôi.
TBKTSG: Mấy năm qua, chúng ta chứng kiến cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam bị “gả bán” cho phía nước ngoài vì nhiều lý do, trong đó có lý do vì điều kiện và năng lực tích tụ vốn quá yếu. Có nguyên nhân nào khác đằng sau vấn đề này?
– Ông Đinh Hồng Kỳ: Tôi có suy nghĩ như vầy, đa số lớp doanh nhân Việt Nam hiện nay có điểm xuất phát là từ những gia đình nghèo khó. Giờ họ thoát nghèo và bằng lòng với những gì mình đang có, việc họ không chấp nhận rủi ro để rút ra khỏi cuộc chơi cũng là điều dễ hiểu. Hơn nữa, hoàn cảnh chúng ta hiện giờ không như các nước tư bản phương Tây với xã hội văn minh và cơ chế kinh tế thị trường ổn định qua hàng thế kỷ đã tạo ra đội ngũ thế hệ các doanh nhân bài bản xây dựng các thương hiệu mang tính toàn cầu. Tại Việt Nam, chỉ chưa đầy một thế kỷ, doanh nghiệp đã phải thay đổi khốc liệt theo sự thăng trầm của lịch sử. Một thế hệ những thương hiệu Việt mạnh đáng tự hào được gây dựng từ đầu thế kỷ 20 vào những năm Pháp thuộc trước 1954 ở miền Bắc hay trước 1975 ở miền Nam như xà bông Cô Ba, nước ngọt Con Cọp, kem đánh răng Hynos, xe hơi La Dalat, gạch bông Thanh Danh, vỏ xe Doãn Cường,… sau này đều bị lụn bại hoặc xóa bỏ.
Nhiều doanh nhân phải bỏ ra nước ngoài, nhiều người phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình sau những đợt cải cách ruộng đất ở miền Bắc hay cải tạo tư bản ở miền Nam. Những bài học rủi ro đó, những biến cố thăng trầm đó trong lịch sử doanh nghiệp Việt Nam đã làm chùn ý chí tiến thủ của không ít doanh nhân trong tham vọng muốn xây dựng một thương hiệu trường tồn trên chính quê hương mình.
– Ông Nguyễn Thanh Lâm: Theo tôi, đây là một vấn đề chung của mọi doanh nghiệp trên thế giới. Điểm khác biệt lại là bối cảnh, môi trường kinh doanh và chính sách kinh tế thị trường.
Thí dụ điển hình nhất là đợt khủng hoảng tài chính 1998 và 2008, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam lao đao, vì sự tích lũy vốn và đất đai đã rất hạn chế tại Việt Nam trong một thời gian dài. “Bóng ma tư sản” tạo ra những e sợ và ngại ngùng. Thêm vào đó, doanh nhân chân chính không nhất thiết phải “có gan to để làm giàu”, hay liều mạng “hy sinh đời bố, củng cố đời con” để làm những chuyện trái với đạo đức.
Tích lũy vốn dựa trên tích lũy tiết kiệm cá nhân thì đến bao giờ mới có đủ vốn để làm chuyện lớn, để ý thức kinh doanh thoát ra khỏi tâm lý cá thể, cò con? Tích lũy qua sàn chứng khoán không dễ dàng, dù đã là công ty đại chúng. Thiếu vốn, thiếu cái phao để vượt qua khi mà có giai đoạn lãi suất đi vay hơn 25%/năm. Rõ ràng đây là vấn đề chính sách tài chính tầm cỡ quốc gia, quan điểm và tầm nhìn kinh doanh quá bảo thủ, quá cẩn trọng nếu không nói là thiển cận của hầu hết các ngân hàng.
Nói về mua bán và sáp nhập (M&A) – không nên hiểu nghiêng về nghĩa thâu tóm, cá lớn nuốt cá bé – nếu gả bán cho đối tác đàng hoàng thì đó cũng là điều bình thường, không hẳn là sự thất bại. Trong năm vừa qua, trên thế giới đã có 36.000 thương vụ M&A trị giá 4.000 tỉ đô la Mỹ.
Doanh nghiệp muốn phát triển rộng lớn thì nội lực phải mạnh, nhất là con người quản trị, lực lượng có tay nghề cao và tài chính vững chắc, hoặc phải có đối tác mạnh để bù đắp khiếm khuyết thiếu vốn. Và đó là điều tệ hại cho cả môi trường kinh doanh, sản xuất ở Việt Nam, vì ở đây tiền là con gà, và con gà được sinh ra từ những quả trứng là con người Việt Nam có tay nghề giỏi giang. Nhưng vấn đề là đừng bán một rổ trứng vì thiếu một con gà để ăn cứu đói.
Hàng vạn doanh nghiệp Việt Nam chết âm thầm mỗi năm trong đau xót và buồn khổ. Chết mà không có được một đám ma để ghi dấu nỗ lực đáng kính của họ. Có ai thực sự nghĩ về họ không?
Tựu trung lại, nếu Ngân hàng Nhà nước – ngân hàng của mọi ngân hàng, và Bộ Tài chính mà ở đây là Tổng cục Thuế có chính sách đúng đắn và phù hợp hơn thì mới mong có sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp bên cạnh những yếu tố khác. Ở đâu cũng phải làm như vậy hết.
TBKTSG: Chừng nào Nhà nước còn chưa xem thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam chính là tài sản của quốc gia thì chừng đó doanh nghiệp còn chưa được chăm lo nuôi dưỡng để lớn mạnh. Là doanh nhân, các ông mong đợi gì từ Nhà nước để thương hiệu Việt Nam đừng trôi xa ngày một nhiều trong bối cảnh hội nhập hiện nay?
– Ông Đinh Hồng Kỳ: Quan điểm của tôi là nếu Nhà nước muốn xây dựng được những thương hiệu Việt mạnh thật sự và trở thành tài sản quốc gia thì cần một số yếu tố cơ bản.
Đó là phải thật sự nhận thức và tạo cho kinh tế tư nhân trở thành chủ đạo của nền kinh tế, phải có những chiến lược rõ ràng và mạnh mẽ để thực hiện điều này.
Nhà nước cần định hướng và tạo điều kiện cho tư nhân xây dựng mô hình công ty gia đình. Bài học của các thương hiệu lớn mang tính toàn cầu hiện nay đều sở hữu bởi các doanh nghiệp gia đình trải qua nhiều thế hệ.
Chẳng hạn theo số liệu thống kê của Ernst & Young năm 2014 thì ở châu Âu có tới 85% doanh nghiệp gia đình tạo ra 70% GDP, ở Bắc Mỹ doanh nghiệp gia đình chiếm 90% tạo ra 70% GDP, ở châu Á – Thái Bình Dương thì tỷ lệ này là 85% và tạo ra 34% GDP…
Bên cạnh việc xây dựng một môi trường kinh doanh công bằng và lành mạnh, Nhà nước cũng phải chọn lọc và tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm và dịch vụ đem lại những giá trị thực sự cho xã hội. Không thể đánh giá doanh nghiệp qua các chỉ tiêu về doanh thu trong khi không ít các công ty đang kinh doanh trên lưng nhau để kiếm lời chứ giá trị thật sự đem lại cho nền kinh tế thì hầu như không có. Và cuối cùng là Nhà nước phải tạo điều kiện và ưu đãi cho những sản phẩm hoặc dịch vụ thuộc vào thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thủy sản, cà phê, thủ công mỹ nghệ, phần mềm… trong cuộc chơi toàn cầu.
– Ông Nguyễn Thanh Lâm: Về phía Nhà nước, không biết ở đây có nên nói nhiều không? Vì có nhiều người đã nói mà rồi mọi chuyện vẫn như cũ.
Tôi muốn nói gọn thế này: Nhà nước hiện đại là bà đỡ của doanh nghiệp và nền kinh tế, là người điều tiết các luồng giao thông và xây dựng trật tự dân chủ, lành mạnh và khoa học. Nhà nước phải là người quét đường theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; nghĩa là không những chỉ san bằng ổ gà, ổ trâu để tạo cơ sở hạ tầng tốt mà phải làm sạch bóng tham nhũng, quan liêu, nhũng nhiễu. Tổng thống thứ 16 của Mỹ, Abraham Lincoln đã nói: Nhà nước phải thực sự do dân, vì dân và của dân.
Chính sách kinh tế phải sáng suốt, tầm nhìn rộng mở, xem trọng khoa học và công nghệ, xem trọng và có kế hoạch ươm mầm nhân tài và lực lượng sản xuất năng suất cao thông qua hệ thống giáo dục và đào tạo tiên tiến.
Còn về phía doanh nhân, tôi nghĩ doanh nhân mong muốn mưu cầu hạnh phúc cho mình và rất nhiều người khác, kể cả đồng sự và nhất là khách hàng. Doanh nhân cần nhiều sự hiểu biết có ích bằng cách học hỏi không ngừng, có trái tim với con người, có đam mê và lòng yêu thích sản phẩm của mình. Doanh nhân cần có dũng khí và sự sáng suốt để vượt qua mọi thử thách và những năm tháng không may mắn. Thế giới đã có rất nhiều tấm gương như thế. Chúng ta tự hào với một Bạch Thái Bưởi dám đặt tên một con tàu của mình là Hàm Nghi và dám cạnh tranh một cách khôn ngoan làm các đối thủ vận tải đường thủy người Pháp phải ngả mũ chào kính phục.